a
§ Tác giả: Mike Ives | Nguồn: Mosaic
Biên dịch: Dexter | Hiệu đính:  Nguyên
19/09/2015
Một đợt khói bụi thường kỳ trong suốt 20 năm qua vừa tràn qua khu vực Đông Nam Á. Nhưng bất chấp những mối lo về y tế công ngày càng gia tăng, vấn đề này có vẻ vẫn mù mịt như chính đám khói vậy, Mike Ives báo cáo.

Ở tuổi 13, Tan Yi Han không thể thấy rìa của sân trường ở đâu. Đó là năm 1998 ở Singapore, một thành phố giàu có nổi tiếng bởi những con phố sạch và những không gian xanh. Nhưng trong suốt phần lớn năm học đó, những đám mây khói bụi đã bao trùm đường chân trời. Một đợt ô nhiễm không khí kỷ lục, bắt đầu từ năm 1997 và kéo dài vài tháng, khiến số người nhập viện tăng 30%. Nó được nhắc tới như là một trong những đợt khói bụi tồi tệ nhất trong lịch sử khu vực Đông Nam Á.

Những đợt khói bụi xảy ra hằng năm tại Đông Nam Á kể từ đó. Quay lại thời điểm năm 1998, và những năm sau đó, Tan đã không thật sự suy nghĩ về chúng. Nhưng ở thời điểm khi Tan chuẩn bị bước sang tuổi 30, anh bắt đầu thắc mắc: Những đợt khói bụi này đến từ đâu nhỉ? Và tại sao chúng tiếp tục quay lại?

§

Ô nhiễm không khí lấy đi 7 triệu mạng người mỗi năm, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), vào năm 2012, tức là trung bình cứ 8 người chết thì có 1 người thiệt mạng vì nguyên nhân này. Đột quỵ và bệnh tim là những lý do tử vong chính, theo sau bởi bệnh tắc nghẽn phổi mãn tính, ung thư phổi, và những bệnh hô hấp ở trẻ em.

Ô nhiễm không khí lấy đi 7 triệu mạng người mỗi năm, theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), vào năm 2012, tức là trung bình cứ 8 người chết thì có 1 người thiệt mạng vì nguyên nhân này.

Điều này đặc biệt tồi tệ ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, nơi có hơn 4,2 tỷ người và mật độ dân số cao. Chỉ riêng Trung Quốc và Ấn Độ, với dân số tổng cộng khoảng 2,7 tỷ người, vừa là nguồn ô nhiễm khổng lồ, vừa là nạn nhân của ô nhiễm không khí.

Trong năm 2010, 40% trong số người chết trước tuổi trưởng thành vì ô nhiễm không khí là ở Trung Quốc, đất nước phát thải khí CO2 nhiều nhất thế giới, theo một khảo sát được công bố trên Lancet1. Theo báo cáo của Trường Y tế công thuộc Đại học Hồng Kông, có hơn 3,000 người chết trước tuổi trưởng thành ở thành phố này trong năm 2013, và vấn đề này còn diễn ra theo xu hướng tồi tệ hơn ở các thành phố lớn thuộc Trung Hoa Lục Địa. Một cuộc khảo sát được thực hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu Pew2 cho thấy 47% công dân Trung Hoa nghĩ rằng ô nhiễm không khí là một vấn đề “rất lớn” trong năm 2013 (tăng từ 31% năm 2008). Hiện đây là một vấn đề trọng tâm của những nhóm hoạt động vì môi trường ở Trung Quốc và một mối lo cho những nhà lãnh đạo đất nước.

Những mối lo tương tự về sức khỏe đang ngày một tăng ở Ấn Độ, nơi ô nhiễm không khí là lý do tử vong lớn thứ năm. Từ năm 2000 đến năm 2010, số lượng người chết trước tuổi trưởng thành hằng năm do ô nhiễm không khí toàn Ấn Độ tăng 6 lần lên 620.000, theo Trung tâm Khoa học và Môi trường, một nhóm nghiên cứu vì lợi ích xã hội ở New Delhi. Trong tháng 5 năm 2014, WHO thông báo New Delhi có môi trường không khí tồi tệ nhất trong 1.600 thành phố được khảo sát toàn cầu và sự ô nhiễm gia tăng đó tăng rủi ro mắc các bệnh đột quỵ, ung thư và tim. Một nghiên cứu khác vào năm 2014 cho thấy sự liên kết giữa sự sụt giảm nghiêm trọng sản lượng các vụ lúa mì và gạo với mức độ tăng dần hai nguồn ô nhiễm không khí – carbon đen từ những lò nấu ở nông thôn và sự hình thành ozone ở tầng mặt đất do khí thải từ xe cộ, công nghiệp và các dung môi hóa học – từ năm 1980 đến năm 2010.

Ở Trung Quốc và Ấn Độ, ô nhiễm không khí là một hậu quả của sự di cư ồ ạt từ nông thôn ra thành phố trong vài thập niên gần đây. Sự thay đổi này khiến khí thải gia tăng từ cả xe cộ và nhà máy, đặc biệt là các nhà máy điện đốt than, và từ một tầng lớp trung lưu mới nổi khao khát những mặt hàng tiêu dùng phổ biến ở Châu Âu và Mỹ.

Khu vực Đông Nam Á gặp phải những vấn đề tương tự trong những thập niên gần đây khi nền kinh tế và dân số bùng nổ. Trên thực tế, theo WHO, gần 1 triệu trong số 3,7 triệu người thiệt mạng do sống trong những môi trường ô nhiễm không khí trong năm 2012 sống ở Đông Nam Á.

Nhưng hơn cả sự ảnh hưởng từ những ống khói và ống xả, khu vực còn phải đối mặt với một gánh nặng to lớn khác: khói bụi từ Indonesia, một sản phẩm phụ của ngành công nghiệp dầu cọ trị giá 50 tỷ USD.

 

§

Vào mùa hè năm 2013, chiếc máy bay chở Tan Yi Han qua eo biển Malacca đến Pekanbaru, thủ phủ của tỉnh Riau, khu vực sản xuất dầu cọ lớn nhất Indonesia. Tan, khi đó là một nhà tư vấn tài chính 28 tuổi, đang làm công tác tình nguyện với Trung tâm Môi trường Toàn cầu, một nhóm người Malaysia làm việc nhiều năm trời để ngăn chặn và đẩy lùi khói bụi. Anh đến trung tâm đất nước láng giềng Indonesia sau khi một đợt khói bụi kỷ lục vừa quét qua bán đảo Malaysia.

Trên chuyến xe tới Riau, anh nhìn thấy vô số cánh đồng khô cằn. Những vụ hỏa hoạn đã biến những đầm lầy than bùn, thảm thực vật tự nhiên của khu vực này, thành một vùng đất có bề mặt khô cằn như than củi. Những đám cháy này được thực hiện với mục đích làm khô than bùn để phục vụ cho hoạt động nông nghiệp, chủ yếu là canh tác dầu cọ. Nhưng ở một số ngôi làng, những đám cháy thậm chí hủy diệt những cây dầu cọ thuộc quyền sở hữu của những công ty đa quốc gia hay nông dân địa phương.

Tan có một cuộc gặp gỡ khó quên ở ngôi làng Rantau Bais. Một cặp vợ chồng mời anh trà và một chút đồ ăn nhẹ, rồi lặng lẽ hỏi liệu anh có thể chia sẻ phần nào thức ăn chính của anh cho họ. Con gái của họ mắc bệnh về hô hấp vì khói bụi. Hóa đơn thuốc quá cao, cộng thêm việc những vụ hỏa hoạn phá hủy những cánh đồng dầu cọ của họ, đã đẩy gia đình vào cảnh nghèo đói.

Cho đến thời điểm đó, anh vẫn nghĩ những vụ hỏa hoạn đó là “cháy rừng”, như thường được gọi trên các phương tiện truyền thông. Nhưng đây là một sự nhắc nhở trực giác rằng những đám cháy thực sự đang ảnh hưởng tới những khu đất canh tác và người dân. “Điều này làm tôi như bừng tỉnh,” Tan nói. “Tôi đã hứa với bản thân rằng tôi sẽ cố gắng hết sức để họ không phải chịu ảnh hưởng từ những đám cháy này một lần nữa.”

Anh cảm thấy đây là một vấn đề cần được công chúng bàn luận nhiều hơn – và vào thời điểm thích hợp, hành động. “Tôi phải khiến nhiều người quan tâm hơn,” anh nghĩ, “và biến chúng thành hành động.”

§

Những bầu trời mờ đục có thể nhìn giống nhau, nhưng khí thải từ một nguồn cụ thể đều khác biệt. Khí thải từ một ống khói của nhà máy ở Trung Quốc khác với khí thải từ một ống xả của xe hơi ở Ấn Độ. Và sự phát tán của ô nhiễm không khí ở một thành phố phụ thuộc vào việc khí thải được kiểm soát như thế nào, và chúng được phân tán dễ dàng như thế nào.

Khí thải từ xe hơi và nhà máy đã được phân tích hàng thập kỷ qua ở những nước phát triển, nhưng khói bụi, và ảnh hưởng của nó tới sức khỏe, chưa được hiểu thấu đáo. “Chưa nhiều người nghiên cứu nó dù đây là một vấn đề quan trọng,” theo Mikinori Kuwata, nhà hóa khí quyển tại Đại học Công nghệ Nanyang Singapore.

Không giống khí thải từ nhà máy và xe cộ, khói cháy rừng không được kiểm soát bởi máy lọc ống xả, bộ chuyển đổi xúc tác, hay những biện pháp giảm nhẹ ô nhiễm khác. Hỗn hợp ở trong đám khói rất đa dạng tùy vào vật liệu nó đang đốt cháy. Ví dụ, những khu vực than bùn hiển nhiên cần nhiều thời gian để đốt hơn những thứ khô ráo hơn – cũng giống như việc cần nhiều thời gian hơn để nhóm lửa trại từ một lốc củi ướt. Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ, than bùn cháy ở nhiệt độ thấp hơn và tạo ra lượng khói bụi lớn và nguy hại hơn so với một đám cháy rừng hay một đám cháy đồng cỏ trung bình.

Khí thải từ một đám cháy than bùn phụ thuộc nhiều vào hỗn hợp tạo nên than bùn, nhiệt độ cháy và đám cháy diễn ra ở độ sâu nào so với nền đất. Nhưng những chi tiết đó chưa được phổ biến ở Indonesia, nơi diện tích than bùn có thể bao phủ một khu vực tương đương lãnh thổ Vương Quốc Anh. Kết quả là, Kuwata nói với tôi, “Chúng tôi không có một hệ thống dữ liệu đáng tin nào” về những vùng than bùn đã bị đốt cháy ở Indonesia. Kuwata đốt than bùn Indonesia ở phòng thí nghiệm của anh ở Singapore để nghiên cứu các thành phần hóa học, nhưng công việc của anh bị hạn chế, anh cho biết, vì anh không bao giờ có thể chắc chắn những thí nghiệm của mình phản ánh đúng thực tế.

Indonesia có một trữ lượng lớn những khu đất than bùn nhiệt đới – và, trong khoảng thời gian một thế hệ, những khu vực này đã bị đốt để lấy đất cho canh tác dầu cọ. Khói than bùn chiếm tới 40% tổng lượng khí nhà kính của Indonesia. Dầu cọ là một nguyên liệu cho nhiều mặt hàng tiêu dùng, từ son môi tới que kem. Nhưng nó đồng thời biến Indonesia trở thành đất nước phát thải khí nhà kính lớn thứ ba thế giới sau Mỹ và Trung Quốc – và cũng là nguồn khói bụi nguy hại lớn nhất thế giới.

§

“Không có một sự hợp tác nào giữa các vị bộ trưởng – họ chỉ đổ lỗi cho nhau!”

Vào một buổi chiều mùa hè, bầu trời mang một dải màu trắng sữa ở Riau, nơi sản xuất ra ¼ sản lượng dầu cọ của Indonesia. Điểm dừng chân đầu tiên của tôi là trụ sở của WALHI, một tổ chức phi chính phủ (NGO) ở thành phố Pekanbaru, chuyên vận động Chính phủ Indonesia có những hành động ứng phó với khói bụi và những vấn đề môi trường khác.

Tôi tới trụ sở WALHI, một tòa dân cư thấp tầng gần sân bay Pekanbaru, khi có một nhóm nông dân và những nhà hoạt động vì môi trường đang thảo luận về vấn đề khói bụi với Sri Nurhayati Qodriyatun, một nhà nghiên cứu của Ban Thư ký Quốc hội Indonesia.

Qodriyatun nói rằng sếp của cô điều cô tới Riau để làm một báo cáo về khói bụi. Ở buổi họp, cô giải thích, theo những tính toán của chính phủ, những đám cháy rừng không xảy ra ở những khu vực thuộc quyền sở hữu của những tập đoàn lớn.

Đám đông xì xào.

“Những tuyên bố của chính phủ về khói bụi là sai!” một nhà hoạt động xã hội ở một NGO địa phương mang tên “Mạng lưới cứu trợ rừng Riau” hô lớn. “Không có một sự hợp tác nào giữa các vị bộ trưởng – họ chỉ đổ lỗi cho nhau!”

Cuộc trao đổi này tạo ra một cuộc tranh luận kéo dài trên khắp Đông Nam Á về việc chính xác ai là người chịu trách nhiệm cho những vụ đốt cháy than bùn ở Indonesia. Những người nông dân và những nhóm hoạt động vì môi trường thường buộc tội các công ty, một số có trụ sở ở Singapore hoặc Malaysia, về hành động bất lương này. Nhưng những công ty này cho rằng sự chỉ trích được thổi phồng lên, và họ đã cố gắng cải cách phương thức làm sạch bãi đất trong những năm gần đây thông qua những cải cách ban đầu như thành lập Bàn tròn về Khai thác dầu cọ bền vững, một hiệp hội dẫn đầu bởi các đại diện trong ngành.

Dù ai đúng trong trường hợp này, Qodriyatun nói, những đám cháy đã gây tổn hại tới hình ảnh trên trường quốc tế của Indonesia, và chính phủ Indonesia thực sự không để ý nhiều tới những ảnh hưởng tới sức khỏe ở Riau và các vùng chịu ảnh hưởng khác.

“Cá nhân tôi không nghĩ chính phủ đang quản lý tốt việc này,” cô nói với tôi sau buổi họp. “Họ thường chỉ phản ứng sau khi những đám cháy bùng lên, nhưng họ cần nghĩ nhiều hơn về việc phòng chống chúng.”

Dù vậy, những vụ hỏa hoạn than bùn nổi tiếng là khó dự đoán và dập tắt. Chúng bắt đầu và lan ra dễ dàng, và đôi khi không thể kiểm soát, tùy thuộc vào những điều kiện như tốc độ gió, độ sâu của đất và độ khô của không khí.

“Rất khó để biết đám cháy sẽ tồi tệ đến mức nào khi nó bắt đầu,” theo Dedy Tarsedi, một nông dân ở làng Bungaraya của vùng Riau. Chúng tôi đang ngồi ở một quán cafe ven đường gần một rặng cây dầu cọ. Tarsedi chia sẻ với tôi rằng dầu cọ là sự lựa chọn của phần lớn nông dân Bungaraya vì chúng có giá trị hơn lúa gạo. Một hecta dầu cọ có thể mang về 48 triệu rupiah (gần 4.000 USD) mỗi năm. Ngược lại, lúa gạo chỉ mang lại 40 triệu rupiah.

Nhưng cùng với sự gia tăng của việc canh tác dầu cọ, những đám cháy cũng tăng lên. Và chúng gây ảnh hưởng xấu lên cả đồn điền của các công ty và hộ nông dân.

“Nếu một đám cháy xảy ra và chúng tôi không thể kiểm soát nó, chúng tôi sẽ báo cáo nó,” Maman, một nông dân Bungaraya, cho biết. Nhưng đôi khi, kể cả những chiếc trực thăng cũng không đủ sức để dập tắt đám cháy, anh nói thêm. “Và trong những đám cháy thật sự tồi tệ, nhiều đứa trẻ phải hứng chịu những cơn ho và kết thúc ở phòng khám với những vấn đề khác nhau về sức khỏe.”

Trong năm 2009, Indonesia thông qua bộ luật cấm đốt cháy những khu vực than bùn. Những người nông dân Bungaraya cho tôi biết rằng họ bắt đầu làm sạch những vùng than bùn một cách thủ công mà không sử dụng đến lửa. Nhưng Tarsedi nói rằng việc làm sạch thủ công cần nhiều công nhân và phân bón hơn, đồng nghĩa với việc cần bỏ nhiều thời gian và tiền bạc hơn, khiến nhiều nông dân không muốn tham gia nữa.

§

Một vấn đề khác, là công chúng không xem khói bụi là một mối nguy hại nghiêm trọng tới sức khỏe. Mọi người coi nó kiểu, “Ừ, đó là vấn đề diễn ra ở Indonesia.”

Khi gió thổi từ phía Tây, những đám khói bụi có thể tràn qua phía Đông qua eo biển Malacca vào cả Singapore và Kuala Lumpur (thủ đô Malaysia) – ngôi nhà của 7 triệu người. Đông Nam Á không phải nơi duy nhất mà việc đốt cháy thảm thực vật diễn ra trên một diện tích lớn; phần lớn những đám cháy trên thế giới xảy ra ở khu vực Châu Phi và Nam Mỹ. Nhưng những đám cháy ở Đông Nam Á là độc nhất, theo Miriam Marlier, một nhà nghiên cứu thuộc Đại học Columbia, vì chúng xảy ra rất gần với những khu vực dân cư đông đúc.

Chưa có một nghiên cứu toàn diện nào về ảnh hưởng của việc tiếp xúc với khói bụi từ than bùn trong thời gian dài tới sức khỏe con người, và chắc chắn còn ít hơn nữa sự nghiên cứu về những thành phần hóa học của khói bụi từ than bùn khác thế nào so với những loại khói bụi công nghiệp khác. Nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy một số manh mối.

Những nhà nghiên cứu Mỹ đã chỉ ra rằng những đám cháy từ than bùn tại những bang phía nam trong mùa hè năm 2008 khiến các ca nhập viện vì suy tim và các biến chứng hô hấp hen suyễn tăng đột biến. Ở một nghiên cứu khác, được công bố vào tháng 6 năm 2014, họ đốt than bùn đã cháy đen một phần từ những đám cháy gần nơi ở của những con chuột thí nghiệm. Những vấn đề về phổi tìm thấy ở những con chuột này chủ yếu liên quan đến những phần tử hạt thô trong đám khói bụi, còn vấn đề về tim có mối liên hệ với những phần tử hạt tinh hơn.

Một mối lo căn bản từ góc nhìn sức khỏe là những vụ đốt cháy than bùn có xu hướng tạo ra số lượng lớn những phần tử hạt tinh, gọi là PM2.5, hơn những vụ cháy rừng thông thường. Điều này đáng lo chủ yếu bởi những phần tử hạt tinh được cho là thâm nhập sâu hơn vào mạch máu so với những phần tử hạt thô hơn, tạo ra rủi ro cao hơn cho tim và các cơ quan nội tạng khác. Những phần tử hạt tinh hơn cũng khó được chặn bởi những chiếc khẩu trang thông thường mà người dân ở các thành phố Châu Á thường đeo để bảo vệ mình khỏi ô nhiễm không khí.

Một nghiên cứu trên phạm vi rộng vào năm 2012, được công bố trên tạp chí Góc nhìn Sức khỏe Môi trường, ước tính rằng có khoảng 339.000 ca tử vong từ năm 1997 đến năm 2006 liên quan tới những vụ đốt cháy các khu đất. Khoảng 4 trên 5 cái chết có liên hệ tới sự tiếp xúc thường xuyên với những đám cháy này. Vùng cận Sahara ở Châu Phi và vùng Đông Nam Á chiếm lần lượt 157.000 và 110.000 cái chết, và tỷ lệ tử vong tăng vọt trong những năm có hiện tượng thời tiết El Nino3, một hiện tượng gây ra những điều kiện thời tiết khô hạn hơn ở Đông Nam Á. “Việc giảm mức độ dân số tiếp xúc với ô nhiễm không khí từ những vụ đốt cháy các khu đất là một nỗ lực cần thiết mà có thể đem lại những lợi ích sức khỏe tức thì và đo lường được,” những nhà nghiên cứu kết luận.

Một nghiên cứu khác vào năm 2012 bởi Miriam Marlier và các nhà khoa học từ những viện nghiên cứu Mỹ và Anh cho thấy từ 1% đến 11% dân số Đông Nam Á chịu ảnh hưởng liên tục bởi ô nhiễm trên mức chất lượng không khí tiêu chuẩn của WHO từ những đợt khói bụi từ 1997 đến 2006. Sự tiếp xúc với ô nhiễm càng gia tăng trong những năm El Nino, khiến 15.000 người trưởng thành thiệt mạng mỗi năm do các bệnh về tim mạch, những nhà nghiên cứu viết. Khoảng ⅔ trong số các ca đó có mối liên hệ với những phần tử hạt tinh hơn PM2.5, trong khi ⅓ còn lại có mối liên hệ với ozone. Tuy nhiên, không có đủ bằng chứng để xác định chính xác sự khác nhau giữa độ độc hại của PM2.5 trong những đám cháy từ than bùn và PM2.5 thải ra từ những thành phố Mỹ.

Một số nhà khoa học nghĩ rằng những ảnh hưởng lâu dài của khói bụi từ than bùn tới con người có thể tương tự với ô nhiễm không khí ở đô thị, nơi cũng có sự tồn tại của các phần tử PM2.5. Không ai có thể chắc chắn vì có quá ít nghiên cứu làm về vấn đề này.

Rajashkhar Balasubramanian, một kỹ sư môi trường Mỹ, người đang nghiên cứu về khói bụi ở Đại học Quốc gia Singapore, nhận định rằng sự tiếp xúc dài hạn với những đợt khói bụi sẽ làm giảm sức khỏe dân số qua thời gian, kể cả khi con người tiếp tục sống lâu hơn. Trong một nghiên cứu năm 2013, anh và những đồng nghiệp của mình nhận thấy rằng bầu không khí ở Singapore trong một đợt khói bụi chứa asen (thạch tín), crom, cadmium và các yếu tố gây ung thư khác. Họ ước tính rằng mức độ ô nhiễm PM2.5 thông thường ở các đô thị có thể gây ung thư cho mỗi 12 người trên một triệu người Singapore; nhưng nếu những đợt khói bụi cứ diễn ra 10 ngày một năm trong suốt 70 năm, số lượng ca mắc ung thư có thể tăng lên tới gần một nửa.

Tuy vậy, vẫn chưa có một nỗ lực hợp tác quốc tế nào để phân tích khói bụi một cách liên ngành. Theo Balasubramanian, đó một phần là do sự thất thường và không thể đoán trước của những đợt khói bụi: thời tiết thất thường của khu vực Đông Nam Á khiến việc dự đoán thời điểm khói bụi có thể xuất hiện hay nơi nó có thể lan tới trở nên quá khó. Anh liên hệ phần tử khói bụi từ than bùn với việc một con châu chấu nhảy lên giữa không trung, xẹt ngang, và nhanh chóng trở lại mặt đất – chỉ để tiếp tục nhảy.

Một vấn đề khác, Balasubramanian nói, là công chúng không xem khói bụi là một mối nguy hại nghiêm trọng tới sức khỏe. “Mọi người coi nó kiểu, ‘Ừ, đó là vấn đề diễn ra ở Indonesia’,” anh nói với tôi trong một buổi chiều ở văn phòng Đại học Quốc gia Singapore. Đối với chính phủ và những nguồn quỹ, “ưu tiên bây giờ là việc giảm thiểu: làm thế nào để làm giảm số người tiếp xúc với những vấn đề khói bụi, hơn là nghiên cứu chính vấn đề đó.”

 

§

Nhiệm vụ làm giảm ô nhiễm cũng bị bao trùm bởi yếu tố chính trị. Những quốc gia ở khu vực Đông Nam Á có ít quyền kiểm soát cái gì thổi qua địa phận của họ: không như Liên Minh Châu Âu, Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) thiếu một quy chế pháp luật để buộc các thành viên hành động ngược lại với mong muốn của chính họ.

Một trường hợp cần nhắc tới là Thỏa thuận Khói bụi xuyên biên giới ASEAN năm 2002 (ASEAN’s 2002 trans-boundary haze agreement), một công văn không ràng buộc mà trong đó mười nước thành viên đồng ý ngăn chặn và kiểm soát đám cháy từ than bùn. Thỏa thuận kêu gọi sự trao đổi công nghệ và các biện pháp khác nhằm gia tăng đối thoại khu vực và hợp tác trên vấn đề này. Thỏa thuận này ban đầu đạt được những thành tựu nhất định, nhưng đến tháng 9 năm 2014, Quốc hội Indonesia từ chối phê chuẩn nó. Laode M Syarif, một luật sư môi trường sống tại thủ đô Jakarta, nói rằng lý do chính là vì Indonesia từ lâu đã cố gắng dùng thỏa thuận này như một đòn bẩy chống lại quyết định của Singapore từ chối dẫn độ công dân Indonesia bị truy nã vì phạm tội ở quê nhà.

ASEAN có xu hướng ưu tiên cao nhất các mục tiêu về phát triển kinh tế, chủ quyền quốc gia, và sự không can dự vào các vấn đề nội bộ của nhau, theo Helena Varkkey, giảng viên cao cấp Khoa Nghiên cứu quốc tế tại Đại học Malaya. Theo ý kiến của cô, ASEAN đã đưa ra một cách tiếp cận hòa nhã để thỏa thuận với những công ty dầu cọ nổi tiếng, mà phần nhiều có trụ sở tại Singapore hoặc Malaysia.

Thật vậy, một số nhà phân tích cho rằng những vụ sang nhượng đất đai ở Indonesia – những khu đất được phân để trồng rừng thương mại – đều dính dáng tới tham nhũng. Một câu bông đùa phổ biến là, nếu những tấm bản đồ lãnh thổ sang nhượng chồng lên nhau đều được tính là lãnh thổ quốc gia, kích cỡ của Indonesia sẽ tăng lên. Nhưng những tập đoàn và chính phủ hầu hết đều từ chối chia sẻ những tấm bản đồ đó với công chúng. “Nó rất hỗn độn,” theo Andika Putraditama, nhà phân tích nghiên cứu ở văn phòng Jakarta của Viện Nghiên cứu Nguồn lực Thế giới, một tổ chức nghiên cứu có trụ sở tại Washington DC. Đây là lý do vì sao các vùng than bùn ở Indonesia vẫn tiếp tục bị đốt cháy.

§

Trái ngược với hoàn cảnh này, Tan Yi Han, nhà tư vấn tài chính Singapore và đồng thời là nhà hoạt động khói bụi, hy vọng có thể tạo ra ảnh hưởng tới cuộc tranh luận khu vực về vấn đề này. Đầu năm 2014, anh sáng lập một tổ chức xã hội dân sự gọi là People’s Movement to Stop Haze (Tạm dịch: Hành động để Ngăn chặn Khói bụi), hay PM Haze, để bắt đầu cuộc tranh luận.

“Trực giác của tôi bảo rằng chúng ta cần tạo ra ảnh hưởng,” Tan cho biết tại một cuộc họp PM Haze tối Chủ nhật. Buổi họp chỉ có một người nữa: Putera Zenata, một giáo viên người Indonesia đã tham gia vào nhóm sau khi tìm thấy Tan trên mạng. Địa điểm cuộc họp là ở một căn hộ khiêm tốn của Zenata ở một khu dân cư trung lưu tại Singapore.

Vào tháng 6 năm 2014, một trong những tờ báo của quê hương của Tan, The Independent, phong cho anh danh hiệu “Người chiến đấu chống khói bụi dũng cảm”. Nhưng PM Haze, với 10 thành viên tích cực và không có nguồn tài chính bên ngoài, yếu thế hơn nhiều nhóm nghiên cứu đấu tranh với ô nhiễm không khí khác ở Châu Á. Ở New Delhi, Trung tâm Khoa học và Môi trường đã đề xuất những phương thức cụ thể để chính phủ có thể đối mặt với những vấn đề ô nhiễm – ví dụ, xử phạt nghiêm khắc đối với những vụ việc gây ra những đám cháy lớn. Và ở Bắc Kinh, Viện Công chúng và Các vấn đề môi trường đang phát triển một ứng dụng di động giúp kiểm soát ô nhiễm như là một cách gia tăng áp lực với những công ty đang gây ô nhiễm.

Tự lực cánh sinh, Tan gần như không có kinh nghiệm trong khu vực phi lợi nhuận. Anh nói với tôi rằng anh không có kế hoạch nào để gây áp lực lên chính phủ hay những công ty để khiến họ có hành động – ít nhất là chưa có. Ở thời điểm hiện tại, PM Haze chỉ đơn giản là cố gắng nghiên cứu vấn đề, tất cả những mặt phức tạp của nó, và công bố những nghiên cứu này tới công chúng Singapore. Vào đầu tháng 11 năm 2014, nhóm đã tổ chức một buổi “triển lãm khói bụi” ở Singapore, thu hút được 800 người tham gia. Trong tương lai xa hơn, Tan nói, họ muốn làm một bộ phim tài liệu ở Indonesia. “Mục tiêu cá nhân của tôi là dừng vấn nạn khói bụi vào năm 2023.”

Đó có thể là một giấc mơ hão huyền. Nhưng theo Wilson Ang, Trợ lý Giám đốc Phát triển bền vững tại Viện Các vấn đề quốc tế Singapore, đợt khói bụi diễn ra vào tháng 6 năm 2013 khiến công chúng Singapore “quan tâm nhiều hơn” tới vấn đề. này Cùng với PM Haze, một nhóm cộng đồng khác là Haze Elimination Action Team (Tạm dịch: Nhóm Hành động Tiêu diệt Khói bụi) ra đời. Cả hai nhóm đều đã có những đợt thực địa tại Indonesia, mở ra những cuộc đối thoại với những công ty dầu cọ, và đưa ra phản hồi hay kiến nghị tới những nhà chức trách ở Singapore. “Cách tiếp cận từ dưới lên như vậy rất được Chính phủ chào đón,” Ang cho biết.

§

Hơn lúc nào hết, ô nhiễm không khí là một mục tiêu nổi bật của những cải cách chính sách và sự can thiệp vào y tế công.

Tuy vậy, khói bụi vẫn là một mối lo ngày càng gia tăng ở nhiều nước, đặc biệt là những nước thu nhập thấp hơn. “Chúng tôi cố gắng sử dụng nhiều cơ sở luật pháp hiện hành để kiểm soát những điểm nguồn ô nhiễm, nhưng thực sự môi trường xung quanh vẫn không được cải thiện,” theo Jacqueline McGlade, Trưởng nhóm nghiên cứu tại Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc. Những thách thức khác, cô chia sẻ với tôi, là liên kết dữ liệu về ô nhiễm không khí với những nghiên cứu về tác động của chúng và giữ các chính phủ thực sự quan tâm để đưa ra những bộ luật về vấn đề ô nhiễm này.

Hơn lúc nào hết, ô nhiễm không khí là một mục tiêu nổi bật của những cải cách chính sách và sự can thiệp vào y tế công. Một số nước có thu nhập thấp hơn, vật lộn với hậu quả của ô nhiễm môi trường lên sức khỏe với dân số đang bùng nổ, đang thắt chặt những tiêu chuẩn về chất lượng không khí. Những nguồn viện trợ quốc tế và những tổ chức phát triển đang có những dự án để kiểm soát và điều tiết khí thải.

Ở Đông Nam Á, khói bụi đang dần bao trùm radar chính trị. Vào đầu tháng 7 năm 2014, những nhà chức trách ở tỉnh Riau thông báo rằng họ sẽ thực hiện một đợt “kiểm toán thân thiện” với chính quyền địa phương và những công ty nông lâm có mối liên hệ với những khu than bùn. Vào ngày 5 tháng 8, Quốc hội Singapore thông qua dự thảo luật cho phép chính phủ phạt tối đa 2 triệu SGD (tương đương 1,5 triệu USD) những doanh nghiệp nội và ngoại vì gây ra hoặc đóng góp vào việc tạo ra khói bụi. Và vào ngày 16 tháng 9, Quốc hội Indonesia cuối cùng cũng thông qua Thỏa thuận khói bụi xuyên biên giới ASEAN năm 2002 sau 12 năm chống lại nó.

Cũng vào mùa hè đó, một cố vấn cao cấp của Joko “Jokowi” Widodo, Tổng thống đắc nhiệm sau đó của Indonesia, cho biết bộ máy quản trị mới có kế hoạch làm mới lại bộ luật 2009 của Indonesia về việc cấm đốt than bùn khi nó hết hiệu lực vào năm 2015. Widodo cho biết, anh dự định tái cấu trúc bộ máy quản lý đất đai bằng việc lập chính sách “một bản đồ” rừng. “Khói bụi được tạo ra bởi cả người dân và công ty,” anh nói với The Straits Times, một tờ báo Singapore, vào cuối tháng 8. “Nếu chúng ta có những công cụ luật pháp mạnh mẽ, điều này sẽ được giải quyết.”

Những bước phát triển này quan trọng như thế nào? Trong cuộc nói chuyện với một số nhà phân tích khói bụi ở khu vực Đông Nam Á, tôi nghe thấy nhiều ý kiến khác nhau. Một số, giống như Helena Varkkey, không đặc biệt lạc quan, chủ yếu vì Indonesia và ASEAN gần như không đạt được tiến triển gì trong việc cải thiện vấn đề khói bụi. Cả luật pháp Singapore hay thỏa thuận khói bụi khu vực, họ chỉ ra, đều không thể thể được bắt buộc thực thi bởi tòa án Indonesia. Và nếu biến đổi khí hậu làm gia tăng số lượng những vụ hạn hán và cháy rừng khắp thế giới, như nhiều nhà khoa học dự báo, vấn nạn đốt cháy than bùn cũng sẽ tăng – tạo ra những thách thức mới trong việc thực thi.

Nhưng những người khác nói rằng tình hình đang khả quan hơn vì ít nhất chính phủ Indonesia và Singapore đang hành động – điều này có thể đem lại hơi thở mới cho những điều luật chống khói bụi của Indonesia. Hoạt động chính trị gần đây cho họ hy vọng rằng những đám cháy từ than bùn hằng năm sẽ không trở thành tình trạng phổ biến cho những thế hệ tương lai ở Đông Nam Á.

“Jokowi có nói rằng anh ta sẽ hành động ứng phó với khói bụi,” Tan Yi Han, người chiến đấu chống khói bụi, nói. “Chúng mới chỉ là lời nói, nhưng còn tốt hơn không.”


  1. Lancet, ra đời ở Anh vào năm 1823, là một trong những tạp chí y học nổi tiếng và uy tín nhất thế giới.

  2. Trung tâm Nghiên cứu Pew là một tổ chức độc lập của Mỹ chuyên nghiên cứu về các vấn đề, thái độ, xu hướng đang diễn ra trên nước Mỹ và trên toàn thế giới thông qua việc áp dụng các phương pháp bỏ phiếu công khai, nghiên cứu nhân khẩu học, phân tích nội dung trên các phương tiện truyền thông, và một số phương pháp nghiên cứu xã hội thực nghiệm khác.

  3. El Niño trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là “Đứa trẻ”, có ý nói đến Chúa Giêsu Hài đồng. Cứ trung bình 3-10 năm, ngư dân vùng biển tại Peru phát hiện ra nước biển ấm dần lên vào mùa đông, khoảng vài tuần trước Lễ Giáng Sinh. Đây chính là một nghịch lý, nhưng nó vẫn tồn tại có chu kì và kéo theo hiện tượng hơi nước ở biển bốc lên nhiều hơn, tạo ra những cơn mưa như thác đổ. Và ngư dân đã gọi hiện tượng này là El Niño để đánh dấu thời điểm xuất phát của nó là gần Giáng Sinh.

    Mưa bão, lụt lội, đó là các hiện tượng dễ thấy nhất của El Nino. Lý do là dòng nước ấm ở phía đông Thái Bình Dương chạy dọc theo các nước Chile, Peru… đã đẩy vào không khí một lượng hơi nước rất lớn. Hậu quả là các quốc gia ở Nam Mỹ phải hứng chịu một lượng mưa bất thường, có khi lượng mưa lên đến 15 cm mỗi ngày. Điều bất ngờ là những cơn gió ở Thái Bình Dương tự dưng đổi hướng vào thời điểm có El Nino. Chúng thổi ngược về phía đông thay vì phía tây như thời tiết mỗi năm. Những cơn gió này có khả năng đưa mây vượt qua Nam Mỹ, đến tận Romania, Bulgaria, hoặc bờ biển Đen của Nga. Như vậy, một vùng rộng lớn của tây bán cầu bị El Nino khống chế. Năm 1997, toàn vùng này bị thiệt hại ước tính 96 tỷ USD do mưa bão, lũ lụt từ El Nino gây ra. Ngược lai, hiện tượng khô hạn lại xảy ra trên các quốc gia thuộc đông bán cầu. Do mây tập trung vào một khu vực có mật độ quá cao, do đó, phần còn lại của thế giới phải hứng chịu đợt hạn hán nghiêm trọng. Các nước thường xuyên chịu ảnh hưởng khô hạn do El Nino gây ra có thể kể: Úc, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Việt Nam…

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

đọc thêm
Mới nhất
Bí mật của tuổi trẻ
Xu hướng tối giản luôn được cho là lối sống mang lại hạnh phúc đích thực. Nhưng hãy ngăn cản cơ thể mình chạy theo xu hướng đó, bởi đơn giản hóa cũng có nghĩa là lão hóa.