a
§ Tác giả: Brandon Keim | Nguồn: Nautilus
Biên dịch: Bích Trâm | Hiệu đính:  Nguyên
19/10/2017

Mùa xuân năm ngoái tôi biết đến một cặp chim bồ câu. Tôi đã cho chúng và những chú chim sẻ nhà Brooklyn ở khu vực tôi sống ăn những hạt hướng dương; thường thì tôi sẽ rời đi để không quấy rầy chúng khi ăn, nhưng thỉnh thoảng tôi lại muốn tưới cây hoặc tắm nắng. Việc này luôn khiến lũ chim bỏ chạy tán loạn – ngoại trừ đôi bồ câu kia.

Một trong hai con, có lẽ là con trống, là một đại diện to lớn của họ nhà bồ câu, với những chiếc lông to và xoăn theo kiểu vũ trang nhã nhặn. Con chim còn lại nhỏ hơn và có một sự tương phản rõ rệt: phần lông ở đầu và cổ lộn xộn, đôi mắt ngấn nước, gợi lên một cảm giác bệnh tật đã trải qua hàng trăm triệu năm tiến hóa phân nhánh.

Con mái chẳng có đủ sức để mà bay lên khi tôi đến gần. Thay vào đó, nó tránh xa tôi bằng vài bước đi rệu rã. Người bạn đời của nó sẽ bay tới chỗ hiên nhà, và từ đó bay qua bay lại. Con trống luôn có vẻ muốn chạy trốn (khi tôi đến gần) – nhưng cần là cùng với người bạn đời của nó, mà nó quay nhìn lại với vẻ lo lắng rõ rệt. Điều này khiến tôi ngạc nhiên. Tôi đã dành khá nhiều thời gian để quan sát động vật và viết về chúng – không chỉ là về quần thể, sự tương tác, hay đặc điểm sinh lý của chúng, mà cả về tâm trí chúng, rằng chúng có thể có những suy nghĩ hay cảm giác như thế nào – vậy nhưng tôi vẫn chưa từng đặt mình vào vị trí một chú chim bồ câu.

Hơn nữa, tôi đã có thói quen diễn giải hành vi thông qua một lăng kính tiến hóa hạn hẹp, mặc định rằng các quyết định của chúng là những tính toán lạnh lùng nhằm tối ưu khả năng thành công trong sinh sản. Từ quan điểm đó, sự trung thành của con trống thật vô lý: Đáng nhẽ nó nên bay đi và tìm một người bạn đời khác khỏe mạnh hơn, để cùng nó truyền lại bộ gen (cho thế hệ sau), hơn là dính lấy con chim bệnh tật này.

Tất nhiên, tôi sẽ không đóng khung cuộc sống của mình theo cách đó. Những cảm xúc có ý nghĩa của tôi sẽ chuyển thành động lực. Tuy nhiên khi nhìn “Harold và Maude”1, tôi đã đặt tên cho cặp bồ câu như vậy, câu chuyện của chúng hé mở bên những bức tranh mà tôi và bạn gái tôi đã vẽ như một cách bộc lộ cảm xúc, tôi bắt đầu tự hỏi. Harold cư xử với một sự tận tâm, dịu dàng, và tình cảm: nền tảng của thứ mà loài người chúng ta gọi là tình yêu.

“Tôi biết những con chim bồ câu khóc than có những tình yêu lớn hơn cả nhiều người tôi quen.”

Đó là một từ thường không gắn với chim bồ câu, hay thậm chí là các loài động vật khác. Jeffrey Moussaief Masson viết trong cuốn When Elephants Weep: The Emotional Lives of Animals (Tạm dịch: Khi loài voi khóc: Cuộc sống tình cảm của động vật) rằng: “Sự tôn kính cao nhất của chúng ta dành cho tình yêu lãng mạn, một đặc điểm gây nhiều hoài nghi nhất khi gán với động vật.” Thật vậy, khoa học trong hầu hết những thế kỷ sẽ thấy những ý tưởng này thật tức cười, cho rằng những cảm xúc của Harold – nếu chim bồ câu có thể có cảm xúc – là một cảm giác thúc giục bản năng, vô thức để ở bên cạnh (người bạn đời của nó), một sự thôi thúc chẳng có nhiều ý nghĩa tình cảm hơn cảm giác ngứa ngáy.

Liệu những tình cảm của chim bồ câu có đầy đủ những cung bậc của tình yêu, từ cảm giác tương tư ngơ ngẩn sự ngây ngất của viên mãn?

Sau tất cả, tình yêu là trung tâm của con người. Làm thế nào mà một sinh vật với bộ não chỉ bằng cỡ hạt đâu có thể cảm nhận một thứ lớn lao đến vậy? Thứ đã khơi nguồn cho vở kịch Romeo và Juliet hay bài hát “Unchained Melody” hay kỳ quan Taj Mahal?

Tôi ngờ rằng một phần của sự do dự khi nói về tình yêu ở loài chim bắt nguồn từ những nghi hoặc của chúng ta về cơ sở sinh học của tình yêu ở chính con người: Có phải tình yêu chỉ là những chất hóa học? Một tập hợp những đặc điểm hoóc-môn và nhận thức được định hình bởi tiến hóa để ưu tiên những hành vi mang lại những chiến lược tối ưu nhất trong việc tìm kiếm bạn tình? Có lẽ tình yêu không phải là thứ định hình con người, mà là một đặc điểm chung giữa chúng ta với những loài khác, bao gồm cả loài bồ câu nhỏ bé.

*****

Những người thành phố thường thấy chim bồ câu thật chướng mắt và phiền toái. Những người gần gũi với thiên nhiên hơn thì xem chúng như một kỳ quan của lịch sử tự nhiên và sự thích nghi với đô thị. Có nguồn gốc từ những loài chim được nhân giống ở Châu u, loài bồ câu Columbia livia2 giờ đây sống trên những hiên nhà hơn là những vách núi như tổ tiên của chúng. Chúng bới thức ăn từ rác thải, đồ bỏ đi, những hạt cỏ dại, trở thành biểu tượng của sự bất khuất.

Nhưng chim bồ câu có thể yêu không? Để xem xét khả năng này, ta nên lùi lại và nhìn vào vị thế hiện tại của xã hội cũng như những cách thức đánh giá dựa vào kiến thức trong chủ đề về suy nghĩ và cảm xúc của các loài động vật khác ngoài con người.

Thói quen cũ đối xử với các loài vật khác như những vật vô tri vô giác có lông – như Descartes từng nổi tiếng so sánh động vật với đồng hồ – đang suy giảm rất nhanh. Các nhà khoa học thường xuyên thảo luận về sự thông minh của động vật. Nhưng thói quen tự động đó đã định hình diễn ngôn trong khoa học và trí tưởng tượng của công chúng. Mọi sự quả quyết về những trải nghiệm phức tạp (của động vật) có thể vấp phải sự phủ nhận mặc định của thuyết hình người (anthropomorphism)3: Có thể chúng ta chỉ đơn giản là áp đặt những phẩm chất của con người lên một thứ đơn giản hơn, thậm chí là xa lạ?

Có những cặp bồ câu tốt và xấu. Cũng như tình yêu của con người có muôn màu muôn vẻ, tình yêu của chúng cũng vậy.

Vết tích của thói quen này vẫn còn đó. Ý thức của động vật thường được công nhận nhất trong một lớp động vật nhất định: những sinh vật với bộ não to lớn như vượn hay cá heo, hay vật nuôi trong nhà như mèo và chó; đó là những loài ta không thể tảng lờ. Còn chim là một lớp nhận được tương đối ít sự chú ý. Và khi chúng được chú ý, người ta thường chỉ tập trung vào trí thông minh, vào những đặc tính dễ đo lường về giải quyết vấn đề và nhận thức, hơn là cảm xúc. Hầu hết những người quan tâm đến khoa học đều biết về những con quạ có khả năng sử dụng công cụ và lý luận. Nhưng tình yêu của loài chim thì vẫn còn là một chủ đề xa vời.

Một phần của sự do dự khi nói về tình yêu ở loài chim bắt nguồn từ những nghi hoặc của chúng ta về cơ sở sinh học của tình yêu ở chính con người: Có phải đó chỉ là những chất hóa học không?

Một ví dụ điển hình là cuốn sách Partnership in Birds: The Study of Monogamy (Tạm dịch: Quan hệ đối tác ở loài chim: Nghiên cứu về lối sống một vợ một chồng), một tập hợp các nghiên cứu xuất bản năm 1996 với mục đích giải thích lý do tại sao chim lại chỉ có quan hệ một vợ một chồng, mà không hề có một dòng nào nói về vấn đề cảm xúc. “Cảm tình” chỉ được nhắc đến một lần, trong một đề cập ngắn gọn về sự gắn kết trong mối liên hệ giữa bạn tình: độc giả được nhắc nhở rằng sự “gắn kết” không cần nhất thiết phải hiểu là sức mạnh hay sự yếu đuối, mà là sự đo lường về sự “tương đồng và đồng bộ của những hành vi có thể ảnh hưởng đến khả năng thích nghi (fitness).4” Đó là một cuốn sách tuyệt vời, nhưng cũng hơi lố bịch, giống như xem đoạn phim cũ về những trận quần vợt, mà trong đó có những phong tục cho rằng ai mặc đồ trắng thì sẽ chậm chạp.

Sự bảo thủ này cũng dễ hiểu: Rất khó để đo lường cảm xúc của con người, ở loài vật thì còn khó hơn, và “bạn không thể nghĩ về loài chim như những con người nhỏ bé,” Kevin McGowan, một nhà điểu học tại Đại học Cornell, chuyên nghiên cứu về hành vi xã hội của loài quạ cho biết. Tuy nhiên, như McGowan ghi nhận, tiến hóa cũng có tính chất bảo thủ, tạo nên sự đa dạng của thế giới động vật từ các yếu tố sinh học phổ biến. Về mặt cảm xúc, McGowan nói, “không có lý do để nghĩ rằng loài người chúng ta có một điều gì đó mới mẻ.”

Thật vậy, tính chất sinh học chính của tình yêu đã có từ lâu theo góc nhìn tiến hóa. Oxytocin và vasopressin, những hoóc-môn liên quan chặt chẽ nhất đến sự gắn kết giữa động vật có vú, có sự tương đồng với mesotocin và vasotocin ở chim, hai loại hoóc-môn quyết định sự tương tác của những cặp chim di vằn (zebra finch). Các loài chim cũng có các chất dẫn truyền thần kinh cơ bản là serotonin và dopamine. Chúng có thể không có nhiều biểu hiện dễ nhận biết trên gương mặt, nhưng các phản ứng dây chuyền giao hưởng sinh hóa của chúng đã diễn ra trong các cấu trúc thần kinh vốn phát triển từ sớm trong lịch sử sự sống, rất lâu trước cả vỏ não.

Chỉ mỗi điều đó thì chẳng thể đảm bảo sự lãng mạn. Jane Goodall, nhà nghiên cứu linh trưởng nổi tiếng, người từng miêu tả một cách mạnh mẽ về tình yêu bền chặt những con tinh tinh mẹ dành cho con cái của chúng, đã viết rằng cô không thể thấy được thứ gì tương tự như tình yêu lãng mạn ở những người họ hàng gần nhất với chúng ta. Đối với Goodall, những hành động quyến rũ đối phương ở tinh tinh quá ngắn ngủi để có thể đạt được những cảm xúc sâu sắc. Cô lưu ý, những khuynh hướng của chúng không được định hình bởi các điều kiện tiến hóa có thể dẫn tới tình yêu, cụ thể là mối quan hệ lâu dài với với một bạn tình, vốn là điều bình thường ở con người hiện đại.

Về mặt này chúng ta khác biệt rõ ràng với tinh tinh – nhưng không phải với loài chim, lớp động vật có hơn 90 phần trăm các loài có chế độ một vợ một chồng, bao gồm cả chim bồ câu. Và sự một vợ một chồng ở chúng hay chúng ta đều không phải kiểu trong sạch, lý tưởng, không có các vấn đề như không thủy chung hay có nhiều bạn tình. Việc quan hệ với nhiều đối tượng, mà chúng ta còn gọi là lừa dối, có thể khá phổ biến. Nhưng chế độ một vợ một chồng là nền tảng, và chim bồ câu, loài vật thường chỉ có một bạn tình trong suốt cuộc đời, là một trong những loài chim chung thủy nhất. Xét đến mặt tiến hóa của chế độ một vợ một chồng, thì tình yêu là điều hoàn toàn hợp lý.

“Loài chim yêu nhau còn nhiều hơn rất nhiều người tôi từng biết.”

Các cặp đôi có chế độ một-một cùng nhau chia sẻ thức ăn, thông tin, và trách nhiệm nuôi dưỡng con cái, đặc biệt là ở những loài mà con non cần sự chăm sóc liên tục – như những con bồ câu non yếu ớt thường được giấu rất kĩ đến nỗi chỉ một vài người thành phố từng nhìn thấy chúng. Tinh yêu – sự quan tâm và chú ý dành cho những nhu cầu của người khác, củng cố bằng những giá trị cảm xúc – có thể thúc đẩy sự hợp tác và làm tăng khả năng nuôi lớn những đứa con khỏe mạnh của các cặp đôi. Claudia Wascher là một nhà động vật học tại Đại học Anglia Ruskin University, người có công trình nghiên cứu bậc Tiến sĩ với chủ đề những con ngỗng xám có bạn tình có hàm lượng hormone căng thẳng thấp hơn những con độc thân. Cô đã nhận xét rằng không nghi ngờ gì, sự gắn kết giữa các cặp đôi là vô cùng mạnh mẽ.

“Những gắn kết xã hội nói chung có vẻ rất quan trọng đối với loài chim,” Wascher cho biết, “và sự gắn kết quan trọng nhất đối với chúng là quan hệ đôi lứa.” Vì thế, mối quan hệ một vợ một chồng là nền tảng tiến hóa cần thiết cho sự thăng hoa trong tình yêu.

McGowan và Wascher vốn đã nhận ra cảm xúc ở các loài chim. “Tôi nghi rằng chúng thực sự có tình cảm dành cho nhau,” McGowan, người từng quan sát những cặp đôi quạ chung sống cùng nhau hơn một thập kỷ, cho biết. “Tình cảm đó không hẳn giống như tình yêu ở con người, nhưng tôi cho rằng nó khá tương tự, đủ để chúng ta nhận ra nó,” cô nói. Tuy nhiên, McGowan đã dừng chủ đề tình yêu ở đó: Khoa học mô tả hành vi rất dễ dàng, nhưng lại nhập nhằng với những trạng thái tinh thần phức tạp.

Thật vậy, việc cho rằng những lợi ích thần kinh-sinh học của sự ghép cặp là tình yêu, dù có hợp lý về mặt tiến hóa như thế nào, nghe vẫn thật khó tin. Chim bồ câu có những đặc điểm và lịch sử đáng lưu tâm, nhưng sự gắn bó của chúng liệu có thể thực sự so sánh với tình cảm ở con người, thứ từng tạo cảm hứng cho nhà thơ Chang Chi ở thế kỷ thứ tám viết nên những lời thanh thở về tình yêu đơn phương: “Vậy nên tôi phải trả lại em những hạt ngọc/ với hai hàng nước mắt cho hợp với chúng sao”?5 Liệu những tình cảm của chim bồ câu có đầy đủ những cung bậc của tình yêu, từ cảm giác tương tư ngơ ngẩn sự ngây ngất của viên mãn?

Tuy nhiên, vẫn có thể tưởng tượng rằng tình yêu của loài chim không chỉ là cảm giác nôn nóng không suy nghĩ. Có lẽ tình yêu của con người mới là thứ phức tạp một cách bất thường, khơi dậy không chỉ những chức năng sinh lý mà còn cả những nhận thức phức tạp độc nhất. Tuy nhiên, cũng có nhiều loài biểu hiện tư duy phức tạp như những loài linh trưởng, như nhận thức về bản thân những cá thể khác, ký ức dài hạn, hay khả năng tư duy những khái niệm trừu tượng. Hành động tán tỉnh “chải chuốt cho nhau” ở các loài chim, khi một con chim rỉa lông cho một con khác, đặc biệt phức tạp. Cũng chỉ như tôi có thể nhớ người yêu mình da diết khi không có cô ấy bên cạnh, một con bồ câu cũng có thể nhung nhớ người bạn đời của nó khi chúng không ở cùng nhau.

Ở khắp mọi nơi và không được công nhận, thường bị phớt lờ hoặc bị coi là những con vật bẩn thỉu, phiền nhiễu, chim bồ câu bây giờ lại mang một ý nghĩa khác với tôi.

Chúng ta có thể xem xét các bằng chứng từ sự quan sát để bảo vệ cho luận điểm về mặt sinh học. Khoảng một thập niên trước, Rita McMahon đã tìm thấy một con chim bồ câu bị gãy một chân trên hiên nhà của cô tại khu thượng tây ở thành phố New York. Cô chim này thực ra khá may mắn. McMahon đã đồng sáng lập ra Quỹ Chim Hoang dã (Wild Bird Fund), nơi chăm sóc cho khoảng 3.500 con chim bệnh tật và bị thương mỗi năm. Một bác sĩ thú y đã cắt bỏ chân của cô chim bồ câu đó; trong lúc cô nàng phục hồi, nàng được nghỉ ngơi trên một cái đệm đặt cạnh cửa sổ căn hộ của McMahon. Và bên kia cửa sổ là người bạn tình của nàng đứng trông nom hàng ngày, bầu bạn với nàng cho đến khi nàng được thả ra và cả hai được đoàn tụ.

“Chúng rất tận tụy đối với nhau,” McMahon nói. Cô cũng nhớ lại một trong những tình nguyện viên của mình đã tìm thấy một con chim oanh (robin) bị gãy cánh, nằm tuyệt vọng trên một bãi đất phủ tuyết với người bạn tình đứng bên cạnh. Tình nguyện viên đó đã đặt chú chim bị thương vào túi để chuyển đến bệnh viện. Với một chút lo lắng, người tình nguyện viên ấy sau đó đã mang theo cả nàng chim bạn tình còn lại – một điều khá bất thường, bởi những con chim hoang dã khỏe mạnh đều rất khó kiểm soát. McMahon cho biết: “Tôi biết để mang một con chim bị gãy cánh về thì rất dễ dàng, nhưng mang một con chim còn lành lặn về thì không hề”. Ở bệnh viện, họ tìm ra rằng chú chim đó không phải là mới bị gãy cánh. Ngạc nhiên là chú chim oanh đó lại rất khỏe mạnh. Người bạn tình của nó, theo McMahon, đã mang thức ăn đến cho nó khi ở trên bãi tuyết, “và quyết định ở lại cùng người đàn ông của mình.”

Tình yêu là vậy thôi. “Không có lý do gì để cho rằng tình yêu ở con người thì sẽ khác tình yêu ở những vật khác”, Marc Bekoff, tác giả cuốn sách The Emotional Lives of Animals (Tạm dịch: Đời sống tình cảm ở động vật) cho biết. “Tôi biết loài bồ câu bi ai (mourning doves)” – một loài rất gần với họ bồ câu – “loài chim yêu nhau còn nhiều hơn rất nhiều người tôi từng biết.” Đối với Bekoff, tình yêu cuối cùng có thể đo bằng sự hiện diện của thứ trái ngược với nó, sự đau buồn.

“Tình yêu ở động vật cũng bí ẩn và phức tạp như tình yêu của con người qua bao nhiêu thế kỉ.”

Sự đau buồn hiện diện trong thế giới loài chim, đặc biệt là ở loài ngỗng xám. Những con ngỗng khi mất đi người bạn đời biểu hiện các triệu chứng thường thấy của bệnh trầm cảm ở người: chán nản, chán ăn, sự buồn bã kéo dài hàng tuần hoặc thậm chí hàng tháng. Tương tự với bồ câu. Trên trang web Pigeon Talk, một trang web của những người yêu thích nuôi chim bồ câu, có rất nhiều giai thoại về những chú chim rơi vào sự hoảng sợ sau khi mất đi người bạn tình của mình, và đôi khi chúng không ghép cặp với bất cứ một con chim nào khác trong cả một năm sau đó – đây là một khoảng thời gian không nhỏ đối với một loài có vòng đời ít hơn một thập kỉ.

Một trong những câu chuyện cảm động nhất là về loài bồ câu bi ai. Sau khi một con chim bồ câu bị diều hâu ăn thịt ở sân sau của một thành viên diễn đàn có tên TheSnipes, người bạn tình của chú chim ấy đã đứng bên cạnh xác chú chim bị chết trong hàng tuần liền. “Cuối cùng tôi không thể chịu đựng được nữa và đã nhặt từng chiếc lông vũ và những tàn dư còn sót lại ở đó và bỏ chúng đi”, TheSnipes viết. “Vậy nhưng con chim kia vẫn tiếp tục canh chừng tại vị trí đó, trong nhiều tháng liền, suốt mùa xuân và mùa hè.”

*****

McMahon đã lưu ý một điều mà tôi chưa từng nghĩ tới: Có những cặp bồ câu tốt và xấu. Một số quan tâm và yêu thương nhau, thường xuyên vuốt ve chải chuốt lông của nhau. Một số khác thì lại có vẻ xa cách và chỉ quan tâm đến việc kiếm ăn. Cũng như tình yêu của con người có muôn màu muôn vẻ, tình yêu của chúng cũng vậy. Không phải câu chuyện nào về chim bồ câu cũng lãng mạn như Fly High, Fly Low (Tạm dịch: Bay cao bay thấp), cuốn sách thiếu nhi tươi vui của Don Freeman về chú chim Sid đi tìm người bạn tình bị lạc Midge của mình, dù hai chú chim chỉ lạc nhau trong một thời gian ngắn khi những người công nhận dỡ bỏ tấm biển hiệu nơi hai chú chim làm tổ. Một số khác thì có lẽ giống Maud và Claud trong Two Disagreeable Pigeons (Tạm dịch: Hai con chim bồ câu trái tính) của Patricia Highsmith hơn, đối đãi nhau bằng sự bất mãn và khinh miệt, ở cạnh nhau chỉ bởi sự lười biếng và thói quen.

Cũng cần xem xét liệu chim bồ câu có những trải nghiệm tình yêu mà chúng ta không có hay không. Liệu một loài chim với đặc tính sinh lý cơ bản thích nghi với sự thay đổi của các mùa, có thể cảm nhận được sóng hạ âm, và nhìn thấy từ trường Trái đất, có những khả năng cảm xúc vượt xa những cảm xúc của chúng ta không? Bao gồm cả, có lẽ, các hình thức tình yêu không đơn thuần là tương đồng với chúng ta, mà là một đặc điểm độc đáo của riêng chúng?

Đó là một thứ để chúng ta tưởng tượng. “Tình yêu ở động vật cũng bí ẩn và phức tạp như tình yêu của con người qua bao nhiêu thế kỉ,” Masson viết.

Tuy nhiên, nghe sẽ không được lãng mạn cho lắm, nhưng tôi không cho rằng tình yêu bí ẩn đến vậy. Nó chỉ đơn giản là cảm thấy tuyệt vời mà thôi.

Còn về Harold và Maude, tôi không biết câu chuyện của chúng kết thúc như thế nào, hoặc liệu rằng nó có tiếp diễn hay không. Chúng cư ngụ trong một tòa nhà bị bỏ hoang một phần trong khu phố đang được nâng cấp nhanh chóng của tôi. Tòa nhà đó giờ đang được xây thành một khu chung cư, khiến cho cặp bồ câu trở thành nạn nhân của giá bất động sản leo thang ở Brooklyn, mặc dù chúng có nhiều cơ hội hơn con người trong việc tìm một nơi tươm tất để sống gần đó.

Dù vậy, câu chuyện về chúng lưu lại trong tâm trí tôi, và giờ đây tô điểm cho những suy nghĩ của tôi về người hàng xóm có cánh của mình. Ở khắp nơi và không được trân trọng, thường bị phớt lờ hoặc bị coi là những con vật bẩn thỉu, phiền nhiễu, chim bồ câu bây giờ mang một ý nghĩa khác đối với tôi. Đậu trên rìa những tòa nhà, đuổi theo những mẩu vụn thức ăn, bay lên bầu trời lúc hoàng hôn: Mỗi chú chim đều nhắc nhở rằng tình yêu ở xung quanh chúng ta.


  1. “Harold và Maude” là một bộ phim về tình yêu giữa Harold – một cậu trai trẻ và Maude – một bà cụ đã 79 tuổi. Sở dĩ tác giả đặt tên hai chú bồ câu như vậy vì thấy sự tương đồng giữa hai cặp đôi.

  2. Là một trong các loài thuộc họ chim bồ câu với cái tên có nguồn gốc từ tiếng Latin.

  3. Thuyết hình người mang một ý nghĩa nhất định trong tôn giáo, gắn bó với tín ngưỡng thờ vật tổ. Tín đồ của tín ngưỡng này cho rằng linh hồn tổ tiên có trong các loài động vật, sau khi chết sẽ đầu thai vào lại con người. Thuyết này tạo cơ sở cho các khái niệm về các vị thần trong tôn giáo của xã hội thời kì bắt đầu phân chia giai cấp.

  4. Trong khoa học tiến hóa, fitness được dùng với ý nghĩa là sự thích nghi – là một đặc điểm với vai trò chức năng hiện thời trong quá trình sống của một sinh vật được duy trì và tiến hóa bằng chọn lọc tự nhiên.

  5. “So I must give you back your pearls / with two tears to match them”?

2 thoughts on “Những điều chim bồ câu dạy chúng ta về tình yêu

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

đọc thêm
Mới nhất